Thứ Tư, 22 tháng 4, 2009

Phòng và trị viêm lợi

Hiện nay, ở nước ta có trên 90% dân số bị các bệnh răng-miệng, đặc biệt ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa gần như người dân không được chăm sóc răng miệng. Trong số này chỉ có 10% được chữa trị đúng cách. Vì vậy nhu cầu chữa bệnh về răng miệng cho nhân dân là rất cao và cấp thiết.

Lợi là một trong 4 thành phần của tổ chức bao bọc quanh chân răng và cổ răng.

Tổ chức quanh răng từ ngoài vào trong có:

  • Lợi
  • Xương ổ răng
  • Dây chằng quanh răng
  • Cement răng.

4 thành phần này bảo vệ chân răng, giữ răng chắc trên xương hàm, truyền lực nhai từ răng vào xương hàm và bảo đảm thẩm mỹ cho hàm răng.

Lợi là hàng rào bảo vệ ngoài cùng của tổ chức quanh răng chống lại vi khuẩn, độc tố của vi khuẩn và các sang chấn.

Viêm lợi xảy ra khi có sự mất cân bằng giữa sự chống đỡ của hệ miễn dịch tại chỗ và vi khuẩn nằm trong mảng bám răng và cao răng. Mảng bám răng là một màng dính nằm trên bề mặt răng, gồm có vi khuẩn, chất nhày và vụn thức ăn, trên màng dính này các chất cặn khoáng của nước bọt sẽ lắng đọng lên tạo thành cao răng.

Yếu tố thuận lợi gây viêm lợi:

  • Thay đổi hormon ở tuổi dậy thì
  • Tuổi thanh niên và thời kỳ mang thai
  • Người mắc bệnh tiểu đường, người ốm nặng
  • Răng mọc lệch lạc
  • Trám lỗ sâu răng mặt bên không đúng kỹ thuật, răng giả không khít
  • Vệ sinh răng miệng kém.

Viêm lợi là một bệnh xã hội, ước chừng có đến 90% dân số mắc bệnh ở mức độ nào đó.

Dấu hiệu phát hiện bệnh: Tùy theo mức độ mà lợi có thể đỏ hay đỏ tía, có thể sưng phì đại, mất độ săn chắc và trông bóng hơn, chảy máu khi chạm phải hay chảy máu tự nhiên, miệng có mùi hôi, có thể đau hoặc không.

Biến chứng: Viêm lợi nếu không được điều trị có thể dẫn tới viêm toàn bộ tổ chức quanh răng gọi là viêm quanh răng.

Dự phòng: Mỗi người hãy đi khám định kỳ 6 tháng 1 lần để phát hiện răng sâu và lấy cao răng, việc chải răng đúng cách cũng rất quan trọng để phòng viêm lợi.

Điều trị: Cần phải loại bỏ nguyên nhân là mảng bám răng và cao răng đồng thời nâng cao sức khỏe toàn thân cho bệnh nhân, bệnh nhân phải đến phòng khám để bác sĩ lấy sạch cao răng. Sau khi đã hết cao răng, bác sĩ sẽ hướng dẫn cách chải răng và sử dụng chỉ nha khoa để làm sạch mảng bám răng. Nếu bệnh nhân đang bị chảy máu lợi nhiều thì nên sử dụng thuốc kháng sinh, như VIDORIGYL. Trong mỗi viên VIDORIGYL có 100mg spiramycine và 125mg metronidazole, uống 4-6 viên mỗi ngày, chia 2 hoặc 3 lần.

Phòng và trị viêm lợi

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2009

Loét miệng

Tìm hiểu nguyên nhân và lựa chọn các giải pháp điều trị

Viêm loét vùng niêm mạc miệng (nhiệt miệng) rất hay gặp ở nhiều người, đặc biệt ở phụ nữ và trẻ em. Bệnh tưởng chừng như nhẹ và vô hại nhưng nhiều khi kéo dài, hay tái phát khiến việc điều trị trở nên phức tạp, gây đau rát miệng, ăn uống không ngon, thậm chí gây mất ngủ, rối loạn tiêu hóa.

Những trẻ bị bệnh này hay quấy khóc, lười ăn dẫn đến suy dinh dưỡng. Thông thường bệnh kéo dài 1-2 tuần mới khỏi và có thể tái phát theo chu kỳ ở nhiều người tạo bệnh viêm loét mãn tính.

Nguyên nhân:

Thay đổi các yếu tố thuận lợi:

-Uống kháng sinh dài ngày,

-Rượu bia,

-Cà phê,

-Hút thuốc lá...

làm mất cân bằng vi sinh làm cho niêm mạc miệng rất dễ bị tổn thương.

Triệu chứng có khi nặng làm vết loét:

sưng đỏ, có mủ, nóng rát, đau nhức, miệng khô, hôi.

Tổn thương cơ học: răng cắn, cọ sát do đánh răng, kích thích..., sang thương có khi rất lớn, có tâm màu vàng, thường ở mặt trong má. Hình ảnh có dấu răng tác động vào, đáy sâu có khi liên quan đến đỉnh nhọn múi răng.

Vi khuẩn, virus, stress, căn thẳng, suy giảm miễn dịch...

Loét trong miệng do sang chấn, loét dạng dời leo ở miệng.

Các bác sĩ chuyên khoa thường nhắc đến một dạng loét miệng rất ưa gặp là Áp-tơ (aphtous ulcer), bệnh này thường tái phát và có khi được nhiều người gọi với những tên gọi khác nhau như viêm miệng dạng loét (ulcerative stomatitis) hay loét áp-tơ tái phát (recurrent aphtousulcer). Các sang thương này xuất hiện nhiều ở môi, má, sàn miệng, lưỡi, khẩu cái mềm và có khi ở cả trụ amyldale, xuất hiện lần đầu khi ở trẻ em, thường ở tuổi 10-20, rồi thường xuyên hơn và nặng thêm ở những lần sau.

(Áp-tơ đơn giản)

Điều trị:

Thường là giải quyết triệu chứng tại chỗ, nếu có sang chấn hay bệnh lý đi kèm như nhiễm trùng, virus, căng thẳng tâm lý, sau uống thuốc... cần loại trừ những nguyên nhân thứ phát và yếu tố gây bệnh.

Bác sĩ chuyên khoa có khi cho Corticoid uống liều thấp, ngắn ngày với mục đích giảm đau, kháng viêm và giảm yếu tố miễn dịch gây bệnh trầm trọng, tuy nhiên việc tái phát và loét kéo dài làm cho tần suất sử dụng Corticoid tăng lên, cộng với tình trạng ăn uống kém đi, có thể gây ra các tác dụng phụ của Corticoid. Cân nhắc điều trị bằng Corticoid liều thấp dạng uống chỉ khi nào loét quá nhiều và nghi ngờ do áp-tơ tái phát có liên quan đến cơ chế miễn dịch.

Giải pháp cho người bệnh loét miệng:

-Vệ sinh răng miệng kỹ lưỡng, làm sạch nhẹ nhàng, lấy đi các yếu tố tại chỗ, viêm nhiễm, hạn chế nhiễm trùng, giữ vùng sang thương sạch không bám vụn thức ăn.


-Làm sạch miệng thật nhẹ bằng một bàn chải mềm, với oxy già nhẹ (1-1/2%) hay nước muối ấm pha loãng có bán sẵn hay pha chế ½ muỗng cà phê muối vào một ly nước ấm khoảng 150-200ml. Không nên dùng các chất ngậm sát khuẩn miệng có nồng độ cao vì có thể gây đau rát và sang thương càng nặng thêm.

-Tránh ăn cay, nóng, nhiều gia vị, sẽ làm vết loét nặng thêm.

-Không chải răng với kem chứa sodium lauryl sulfate, hầt hết các kem đánh răng có chứa chất tạo bọt, các nghiên cứu cho thấy các chất này làm loét trầm trọng thêm.

-Bổ sung các thuốc, thức ăn có chứa sắt, acid folic, vitamin B12 và một số vitamin nhóm B khác, có thể giúp lành loét. Kháng sinh uống có thể cần nếu có nhiễm trùng thứ phát.

Thuốc bôi:

Có khá nhiều thuốc bôi bán tại pharmacy (OTC), dạng gel, kem, có thể có thuốc tê tại chỗ như benzocaine, lidocaine, benzoin tincture, camphor, bôi trực tiếp lên vết loét.

Mục đích các thuốc dạng "gây tê tại chỗ" này là làm giảm đau, giúp ăn uống dễ dàng hơn,

Tuy nhiên cũng cần lưu ý về việc chính người bệnh lại cắn phải, hay làm tổn thương nhiều hơn nữa vết loét, vì không có cảm giác đau tại chỗ loét nữa. Hơn nữa, thuốc tê này có khi làm hạn chế máu nuôi vết thương và lâu lành hơn.

Vì thế dạng gel "gây tê tại chỗ" này chỉ nên khuyên dùng khi loét gây đau và khó khăn khi ăn uống, mục tiêu điều trị hầu như không rõ ràng. Một số thuốc bôi dạng paste (kem), có mục đích bao phủ bề mặt vết loét, che chắn vết loét bị kích thích do thực phẩm tác động đến, làm loét giảm đi.

Một số thuốc khác chứa choline salicylate, làm giảm đau kháng viêm, chất kháng khuẩn như sulfat đồng, iodine có tác dụng lấy đi vụn thức ăn, mảng bám cạnh vết loét, giúp nhanh lành thương như carbamide peroxide, oxy già muối sodium perborate monohydrate.

Kháng viêm dạng kem (triamcinolone acetonide - ORREPASTE):

Có tác dụng tốt kháng viêm, giảm loét, hạn chế sang thương lan rộng. Tại các nhà thuốc, hiện đang có dạng kem bôi này có tác dụng rất tốt là Orrepaste:

Kháng viêm, giảm đau, bám dính tốt, tạo một lớp bao phủ trên bề mặt.
Kem không bị trôi đi trong môi trường miệng mà vẫn có tác dụng giảm loét, hiệu quả trị liệu tốt, đặc biệt với các vết loét nghi ngờ do áp-tơ, nguyên nhân do thay đổi yếu tố miễn dịch.
Độ mịn cao, hương bạc hà, không gây kích ứng.
Như vậy, loét miệng dù đơn giản nhưng cũng có khi gây ra nhiều vấn đề hay đau nhức, khó chịu và ưa tái phát. Người bệnh có nhiều chọn lựa điều trị, nhiều thuốc uống, bôi, giảm triệu chứng nguyên nhân, tăng đề kháng, vệ sinh tại chỗ... Có thể tự mua thuốc uống nhưng cũng cần phải đến bác sĩ chuyên khoa nếu sang thương loét nặng, gây biến chứng đau nhức, tái phát nhiều lần hay viêm loét không giảm. Điều này rất cần thiết cho việc chăm sóc sức khỏe răng miệng và toàn thân nói chung.

Orrepaste, kem bôi điều trị loét miệng thường được bán ở các nhà thuốc.

Xem chi tiết

Bệnh tay chân miệng là gì?

Là bệnh do siêu vi trùng đường ruột gây ra

Tại sao lại gọi là bệnh tay chân miệng? Đây có phải là bệnh mới không?

Gọi là tay chân miệng vì bệnh có biểu hiện chính là các mụn nước nổi ở vùng tay, chân, miệng.

Bệnh tay chân miệng không phải là bệnh mới xuất hiện, trong tài liệu y khoa đã nói đến từ lâu. Tuy nhiên đa số bác sĩ và người dân đều không biết đến bệnh này, do trước đây bệnh chủ yếu là tác nhân coxsakie rất lành tính. Gần đây trên thế giới đã phát hiện thêm một tác nhân mới rất nguy hiểm cũng gây ra bệnh này đó là enterovirus 71, tác nhân này nguy hiểm vì nó có thể gây biến chứng não và tim gây tử vong cao và rất nhanh.

. Bệnh tay chân miệng có liên quan đến bệnh "lở mồm long móng" ở súc vật không ?


Đây là 2 bệnh hoàn toàn khác nhau do 2 nguyên nhân khác nhau. Bệnh tay chân miệng do siêu trùng gây ra và chỉ lây từ người sang người, không phải lây từ súc vật sang người


. Tại sao lại mắc bệnh tay chân miệng ?


Siêu vi trùng gây bệnh có trong nước bọt, phân, bóng nước của trẻ bệnh. Siêu vi trùng này có thể bám vào bàn tay, thức ăn thức uống, sàn nhà, đồ chơi, dụng cụ ăn uống. Trẻ có thể mắc bệnh tay chân miệng khi nuốt phải thức ăn, thức uống hay khi ngậm đồ chơi có chứa siêu vi trùng gây bệnh


. Bệnh thường gặp ở tuổi nào? Và thường gặp ở mùa nảo ?


Bệnh này thường gặp ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi và rất dễ lây, thường lây nhanh qua đường tiêu hoá ở trẻ sống cùng nhà và sinh hoạt cùng nhà trẻ. Nhưng trẻ lớn và người lớn cũng có thể mắc bệnh.


Theo kinh nghiệm của bệnh viện Nhi Đồng 1 cho thấy bệnh xảy ra theo 2 mùa trong nãm, từ tháng 2 đến tháng 4 và sau đó từ tháng 9 đến tháng 12 trong năm.


. Biểu hiện của bệnh như thế nào ?


Biểu hiện của bệnh tay chân miệng cũng rất dễ nhận biết nếu được chú ý đó là các bóng nước. Bóng nước có kích thước từ 2 - 10 mm, màu xám, hình bầu dục, bóng nước xuất hiện ở vùng mông, gối, lòng bàn tay, lòng bàn chân và thường ấn không đau. Bóng nước còn xuất hiện trong miệng và khi vỡ ra gây những vết loét trong miệng làm trẻ đau và bỏ ăn.


Khi nổi bóng nước trẻ có thể sốt nhẹ, quấy do đau miệng, bỏ ăn. Bóng nước sẽ tự xẹp đi và tự khỏi sau 5 đến 7 ngày.


Một số trẻ có kèm nôn ói, tiêu chảy ngay khi nổi bóng nước hay khi bóng nước đã xẹp.


. Bệnh có biến chứng không ? Và làm sao để phát hiện sớm biến chứng ?


Đa số các trường hợp bệnh sẽ tự khỏi, nhưng nếu bệnh do tác nhân enterovirus 71, một số trẻ có biến chứng rất nguy hiểm là viêm não, viêm cõ tim, viêm màng não.


Trẻ có biến chứng não thường không hôn mê sâu mà có những triệu chứng khó nhận biết như khó ngủ, quấy khóc liên tục, giật mình lúc thức hay lúc bắt đầu thiu thiu ngủ, trẻ có thể biểu hiện hốt hoảng, nói lảm nhảm, chới với run chi, co giật. Triệu chứng khác có thể thấy khi có biến chứng như sốt rất cao, nôn ói nhiều, da nổi bông, mạch nhanh, yếu tay chân, méo miệng. Khi trẻ có biến chứng nếu không điều trị đúng và kịp thời trẻ có thể tử vong trong vài giờ.


Để phát hiện sớm biến chứng này điều quan trọng là khi thấy trẻ có bệnh tay chân miệng (triệu chứng bóng nước ở tay, chân, miệng) thì cố gắng theo dõi sát trẻ ít nhất 8 ngày để phát hiện ngay các dấu hiệu nghi ngờ biến chứng và mang trẻ đến bệnh viện. Mặt khác nếu thấy có những triệu chứng bất thường kể trên thì tìm xem trẻ có những bóng nước ở lòng tay, lòng bàn chân, gối, mông không? Nếu có thì nhanh chóng đưa trẻ đến bệnh viện.


Đối với trường hợp không có biến chứng thì có thể điều trị tại nhà bằng thuốc giảm đau, cho trẻ ăn thức ăn lỏng dễ tiêu. Cố gắng cho trẻ ăn thành nhiều bữa.


. Bệnh có thể phòng ngừa được không ?


Hiện nay tác nhân enterovirus 71 chưa có thuốc chủng ngừa nên cách phòng ngừa hiện nay là bảo đảm vệ sinh trong ăn uống.

• Không nên cho trẻ bệnh đến trường học, nhà trẻ, chợ, hồ bơi.


• Rửa tay bằng xà bông và dưới vòi nước chảy trước khi ăn và sau khi đi tiêu.


• Che miệng, mũi khi ho hay hắt hơi.


• Bảo đảm chỗ ở thoáng mát.


• Rửa sạch các vật dụng, đồ chơi mà chất tiết mũi họng của trẻ có thể bám vào bằng dung dịch sodium hypochlorite 0,5%.


• Không dùng chung các đồ dùng ăn uống.

Sự lây truyền sẽ nhiều hơn khi vệ sinh kém và môi trường sống đông đúc.

Bệnh tay chân miệng là gì?